Latest Entries »

Khi hoàng Đế hỏi về toa thuốc trị bệnh cho một người luôn luôn đòi hỏi xác thịt, không bao giờ thỏa mãn. Tố Nữ kể câu chuyện như sau:

“Có một nữ nhân tuổi đã 30 nhưng việc tình dục đòi hỏi như thiếu nữ mới ngoài 20. Nàng luôn luôn cần gần gũi đàn ông, không có dương khí trong mình thì nàng không sao chịu được, âm hộ nước nôi dầm dề nhiều khi chảy ra ướt cả quần.”

Lý do có sự kiện này là vì trong âm hộ của nàng có một loại trùng làm tổ. Đó là loại trùng thật nhỏ (cở 3 phân Tàu), hình đuôi ngựa. Trùng này có 2 loại, đầu đỏ và đầu đen. Loại đầu đỏ không linh hoạt bằng loại đầu đen.

Trị bệnh này thỉ dung phương pháp như sau: Dùng bột mì nấu chín, vo thành một vật giống như dương cụ lớn nhỏ tùy theo ý thích của bệnh nhân, chế vô đó một ít nước tương, đâm vô đâm ra nơi âm hộ đến một lúc thì các con trùng đó cũng theo ra. Cứ tiếp tục như vậy như là giao hợp với nam nhân, tới khi lấy hết tất cả trùng ra. Thường trùng này làm tổ thì độ 30 con trong một âm hộ.

GHI CHÚ:

1.     Chuyện của Tố Nữ khó tin nhưng cũng chẳng qua chỉ là cach thỏa mãn dục tình của nữ nhân với lời tư an ủi rằng đó là một phương thức chửa bệnh xấu của mình mà ngày nay phụ nữ Tây phương thường dùng với dụng cụ tương tự.

2.     Ngày nay các bệnh về tình dục không thỏa mãn có 2 loại:

  • Đàn bà mắc bệnh đòi hỏi không bao giờ biết thỏa mãn và lãnh cãm.
  • Đàn ông tảo tinh (xuất tinh quá sớm tức là khóc ngoài quan ải) và vô năng (bất lực, không làm nên trò trống gì).

Cả 4 trường hợp đều là bệnh này tương phản với bệnh kia ở trong một tính phái. Bệnh sanh ra do việc giao hợp quá mạnh bạo, gấp rút mà ra. Vậy để chữa bệng này cần phải dùng vật lý trị liệu (thuốc men) và tinh thần trị liệu.

Trời sinh ra nam nhân khác với nữ nhân, tính dục dễ dàng bị kích thích. Nhưng người dễ bị kích thích quá thì có hại vì hứng tình lên nhanh thì xìu xuống cũng nhanh. Trong trường hợp này bệnh dễ mắc là tảo tiết. Mắc chứng này rồi thì sớm muộn gì cũng mắc chứng vô năng. Người vợ của bệnh nhân này vì không được thỏa mãn khi giao hợp với chồng nên bị măc chứng lãnh cãm.

Tóm lại loại bệnh này là bệnh làm cho sự giao hợp suy nhược. Trái với vô năng và lãnh cãm là giao hợp bao nhiêu lần không thấy đủ, không muốn nghĩ. Đây cũng là một loại bệnh cần chữa trị.

3.     Toa thuốc trừ bệnh tảo tiết hay vô năng là toa thuốc Ủy kê tán (thuốc bột) hay Ủy kê hoàn (thuốc viên). Toa thuốc gồm:

Nhục tùng dung     3 phân

Ngủ vị tử               3 phân

Viễn chí                 3 phân

Xà sàng tử             4 phân

Thố ty tử               3 phân

Đem cả 5 loại nghiền thành bột, mỗi ngày đến lúc bụng đói thì dùng một muỗng canh, hoặc pha trong rược, hoặc them mật mà vò thành viên. Thuốc rất hiệu nghiệm, không có nữ nhân bên cạnh để sẳn sàng gầy cuộc vui thì không nên dùng thuốc này. Trong vòng 60 ngày uống thuốc này thì có thể hạ ngã 40 người đàn bà khác nhau dễ dàng.

Truyện kể có một người Thái Thú tại Tứ xuyên tên là Lữ Kính Đại, ông ta dùng thuốc này vao nhưng năm đã quá 70 tuổi vậy mà vẫn sinh được thêm 3 người con nữa. Sách cũng kể là khi ông dùng thuốc thì sự giao hoan quá mạnh khiến cho phu nhân sinh ra nhiều bệnh chứng, âm hộ đau nhức, phu nhân không thể ngồi được.

Không muốn sử dụng thuốc này nữa, ông Thái Thú đem bỏ ra sau vườn. Một con gà trống ăn phải liền trèo lên đạp mái một con gà tơ, gà trống lên được thì không chịu xuống nữa, mỏ vẫn cắn cái mồng của gà mái cho đến khi con này giựt đứt ra.

Tên Ủy kê tán có từ sự tích này.

Chuyện và toa thuốc nói trên ghi trong sách “Ngọc phòng bí quyết” và “Động Huyền Tử “.

4.     Trong sách “Cổ kim lục nghiệm pháp” có ghi câu chuyện như sau:

Vua Tùy Dương Đế xuống chiếu cầu ai có toa thuốc cường dương thì dâng lên vua. Triều đình nhận được một biểu chương như sau:

“Phu nhân của thần thiếp tên là Hoa Phù. Khi ông ta lên 80 tuổi thì việc phòng trung không còn có thể sinh hoạt được nữa. Cả hai vợ chồng thiếp đều buồn. Một ngày kia phu quân thiếp nhận được một toa thuốc thần diệu là “Ích đa tán” từ sự chỉ vẽ của một người bạn. Ích đa tán gồm các dược liệu như sau:

- Sanh địa hoàng 1 tiền. Rửa sạch thái mỏng ngâm vào một lít rượu. Thời gian sau vớt ra ngiền thành bột.

- Quế tâm 2 phân

- Cam thảo 5 phân

- Bạch truật 2 phân

- Hàn thái 5 phan

Đem 5 vị thuốc này nghiền nát thành bột, sau bữa ăn uống chung vơi rượu, mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần dùng một muỗng canh.

Sau khi dđiều chế xong, phu nhân của thần thiếp chưa kip sử dụng thì qua đời. Thần thiếp có một người giúp việc trong nhà năm ấy đã ngoài 70 tên là Ích Đa. Tên này nhiêu bệnh nê thân thể suy nhược, hay đau lưng nhức mỏi, đầu tóc bạc phơ, mỗi khi di chuyển rất là khổ sở, thần thiếp tội nghiệp đem thuốc Ích Đa Tán không còn dùng nửa đối với thần thiếp mà cho hắn ta. Không ngờ chỉ dùng trong một tháng, thì lưng hắn đã thẳng không còn cong nửa, da lại hết nhăn, tóc lại trở nên đen, mặt mài hồng hào, tươi mát như thanh niên độ cường tráng. Trong thời gian này thần thiếp có hai nữ tỳ tên là Phan Tức va Cẩn Thiện, cả hai đều lấy Ích Đa, hai năm sau cả hai nàng sinh với hắn bốn đứa con. Ích Đa tối ngày lân la ngoài đường rượu chè, chờ đến tối vợ về bày cuộc mây mưa. Vợ chịu không thấu nên một hôm Cẩn Thiện bỏ chạy trong tệ thất, Ích Đa rượt vợ tận phòng thiếp, bắt đè xuống giao hợp ngay tại đây. Chứng kiến sự mạnh mẽ, cường dương khác thường của Ích Đa, thần thiếp hứng tình nên thuận lòng nhảy vào cuộc vui. Thần thiếp tuy quá 50 tuổi nhưng trước cảnh này cũng không đè nén được mình nên để cho xác thịt đẩy đưa. Thời gian qua thần thiếp có với Ích Đa 2 con. Một mình hắn quan hệ với 3 người đàn bà nhưng vẫn không thấy mỏi mệt chút nào, tinh lực vẫn dồi dào, cuộc vui vẫn hào hứng. Một ngày nọ thần thiếp nghĩ rằng mình thông gian và có con với người hầu cận là một việc vô cùng tệ, mất giá trị mình nên lừa dịp giết Ích Đa đi. Thần thiếp mổ dương vật hắn ra xem xét tại sao hắn mạnh như vậy thì thấy dương vật hắn thoa đầy chất hoàng tuỳ. Nếu Hoàng Thượng muốn chinh phục nữ nhân thì phải dùng Ích Đa tán và sử dụng Hoàng tuỳ. Đây là một toa thuốc tuyệt diệu, thần thiếp kính dâng lên bệ hạ.”

Đây là một biểu tấu rất thật. Phản ứng về tình dục của người phụ nữ cũng rất thực. Triều đình lưu trữ biểu chương này chứng tỏ rằng y giới trong triều đình rất là chú ý đến khía cạnh dục tính của vấn đề.

5.     Ngoài các toa thuốc trên còn có các toa như “Cực yếu phương”, “Cát Thị phương”, “Lão bà phương”, “ Bản thảo của Tô Kính”, “Bí mật yếu thuật phương”. Trừ “Cực yếu phương” thất truyền từ lâu, các toa thuốc khác vẫn còn truyền tụng cho đến ngày nay coi như thứ thuốc bổ dương hữu hiệu và có kết quả chứng nghiệm.

  • “Cực yếu phương” gồm:

- Sà sàn tử                 2 phân

- Thố hệ tử                2 phân

- Ba kích thiên bì        2 phân

- Nhục tùng dung       2 phân

- Viễn chí                   1 phân

- Ngũ vị tử                 1 phân

Các dược liệu trên được nghiền nát thành bột, mỗi lần dùng một nửa tiền pha với rượu, dùng trong 20 ngày thì có kết quả (tinh khí hăng cường, giao hoan không biết mệt).

  • “Cát thị phương” chuyên trị:

– Nam nhân dương cụ không thức nỗi, xìu trơ

– Nữ nhân âm bế đến nỗi khong thích giao hợp

Dược liệu gồm:

- Nhục tùng dung

- Thố ty tử

- Sà sàn tử,

- Chí viễn

Mỗi thứ một lượng, đem nghiền nát thành bột, pha với rượu. Mỗi ngày dùng ba lần, mỗi lần dùng một muỗng canh.

  • “Lão bà phương“ cũng là toa thuốc trị dương cụ không giương, gồm:

- Câu dĩ

- Xương bồ

- Thố ty tử

Mỗi thứ một phân, nghiền nát, moi ngày dùng ba lân, mỗi lần dùng một muỗng canh, trong một tháng thì dương vật cứng như sắt, như gang.

  • “Bí mật yếu thuật dương “:

– Lấy một tổ ong vào tháng tám, ép suốt một đêm rồi đem vào bỏ vào trong một cái túi nhỏ rồi đem treo trên một cành tre, đến một ngày thì tổ ông biến thành “Âm can diệu dược”, một thuốc kích dục hữu hiệu.

Khi trong mình không thể hứng tình mà muốn giao hoan thì lấy tổ ong đó cắt ra vài miếng. Chia là hai phần.

-   Phần thứ nhất để lên lửa riu riu, và nấu cho đến khi âm ấm.

-   Nửa phần còn lại cho vào lòng bàn ray, nhổ nước bọt vào cho mềm rồi đem thoa lên dương vật để như vavậy cho khi khô những bụi xác rớt xuống hết rồi giao hợp. Nên nhớ nếu muốn tăng cường cảm khoái thì chà lên quy đầu, nếu muốn dương vật tăng trưởng lên to lớn hơn, thì nên thoa xung quanh cua nó.

-   Khi giao hợp nên pha phần đang để lửa âm ấm llia với rượu mà uống.

  • Còn một phương pháp làm cho dương vật bị liệt giương lên dược là lấy “dầu ba đậu” hay thuỷ ngân thoa lên vùng lông trước khi muốn giao hợp.

Tất cả những thuốc và phương pháp trên là dùng để chữa chứng không lên của thằng nhỏ, một mặt chửa trị nhưng một mặt khác cũng là kích thích thêm phần khoái cảm.

6.     Muốn giảm bớt tình dục quá sung mãn của nam nhân người nữ có thể thuyết phục để châm cứu họ. Điểm châm cứu là điểm “tam tâm giao” cách ba tất kể từ gót chân đi lên. Giảm bớt sự dương cường của nam nhân người nữ có thể tránh thnụ thai hay khỏi mệt trong những lần giao hoam mình không đủ sức chịu đựng.

7.     Các thứ nói trên chỉ là phương cách đi tìm khoái cảm, vấn đề quan trọng hơn là làm sao trẻ mãi không già, truờng thọ mà vẫn thụ hưởng được khoái cảm.

Cổ thư còn ghi lại những sự tích về mặt này.

Dương quí phi muốn cho Đường Huyền Tôn sủng ái mình nên luôn luôn chú trọng trau chuốt về ba mặt sức khoẻ, sắc đẹp và tính kỷ (kỷ thuật giao hợp sao cho tạo sướng khoái tối đa cho nhười giao hợp với mình). Quí phi ăn nhiều trái vải (lệ chi) vì thứ trái cây nầy có dược tính làm cho thề lực kiện khang. (Tuy nhiên không ăn nhiều quá để có thể bị chứng máu cam vì trái vải tính nhiệt). Sự kiện thích ăn một trái gì đó để tăng cường thể lực ở đâu cũng có. Bên Ai cập này xưa các Hoàng hậu muốn cho da thịt mình bóng loáng, đẹp đẽ đã cho ngâm trân châu vào rượu để uống. Quí phi cũng còn dùng những loại thuốc bổ âm khác, đặc biệt là qua các thức ăn như yến và trái vải.

Trái vải rất có tác dụng lên can tạng (gan) và tì tạng (bao tử) nghiã là có thể làm tiêu trừ những độc khí trong thân thể và có tác dụng chấn tỉnh tinh thần khiến không cảm thấy mệt nhọc, bãi hoãi.

8.     Cổ tịch của Trung Hoa khi nói về nhưng cách cường tinh bổ dược có nhắc đến một khí cụ dùng cho nữ nhân hình dáng tương tự như dương cụ, do đo ta thấy rằng ngày xưa cũng đã biết tính cách gợi dục cuả vật chất.

Dễ tháy nhất trong việc nầy là chuyện dùng trái đào. Đem một trái đào nhâm trong giấm chua thì có được một thứ gọi là “thôi dâm dược” thứ thuốc kích thích dâm. Ngòai tính chua, đào còn có hình dạng như bộ phận sinh dục của nữ nhân, là một thứ có tính cách gợi dục, khi nhìn trái đào thì con người sẽ liên tưởng ngay đến chuyện đàn bà và mây mưa. Chuyện truyền kỳ ghi lại trong sách “Liệt tiên toàn truyện “ về bà Tây vương mẫu xuống trần năm Nguyên Phong nguyên niên tặng cho Hán Vũ Đế bảy trái đào tiên mọc ngoài Đông hải tiên sơn để chúc cho Vũ Đế sống lâu cũng có ý nghĩa xa gần về tình dục. Người đời Hán có nhiều người theo phái tính đào (tính cách gơị cái giống nữ của trái đào) nên đặt ra chuyện nầy.

9.     Kinh Thi của Trung Hoa (loại ca dao của ta) có câu “đào chi yêu yêu, xử nữ vu quy, nghi kỳ thất gia…” là tả người con gái đẹp trước khi về nhà chồng, mặt mơn mởn xinh tươi như trái đào. Ở Nhật Bản “Phương diện tập” cũng ghi chép những câu ca miêu tả người đẹp. Điều đó cho ta thấy rằng loài người ở đâu cũng thế thường ca ngợi sự hoan lạc của tính ái (sung sướng của giao hợp), và gom góp các chuyện tươi đẹp của nhân gian thành các bài ca dao.

10. Loài người là loài duy nhất biết tạo ra trong trí mình sự liên tưởng và sự không tưởng, cho nên khi dùng thuốc thì phải tin tưởng nó có hiệu quả. Có tin thì thuốc mới công hiệu, còn không tin thì uống bao nhiêu thuốc cũng vô ích mà thôi. Trong chuyện “Quỉ giao” có kể chuyện một người bị bệnh giao hợp không thỏa mãn đêm đêm nằm mộng thấy mình hành sự với yêu quái. Mộng này sinh ra vì sự tưởng tượng tới tình dực ban ngày mà thôi. Tự kỷ không nghĩ chuyện ân ái thì mộng cũng không còn

Một nhà sáng tác nhạc người Nhất tên là Bình Vĩ Xương Hoàng khi nằm bệnh viện trị bệnh kế thạch đã tự chữa bằng cách niệm danh Bồ Tát mỗi ngày một vạn lần. Ông dự trù niệm như vậy trong năm năm thì sẽ khỏi bệnh, nhưng chỉ trong vòng một năm thì đã khỏi. Nguyên do hết bệnh vì ông an tâm niệm kinh và hô hấp dài. Khi hít vào lượng dưỡng khí lớn tim và phổi được kích thích để hoạt động, trong thân thể sẽ sinh ra các phản ứng hữu ích. Hô hấp dài hạn để tập trung ý chí vào một chủ điểm sẽ quên hết tất cả phiền não cũng là một yếu tố tâm ý tốt khiến cho mau lành bệnh. Tin tưỡng mình sẽ hết bệnh cũng là một yếu tố trong sự việc này.

11. Sách “Bí quyết ngọc phòng “ có ghi thuật làm cho dương cụ dài ra như sau: Dùng sơn thúc, tế tân, nhục tùng dung, mỗi thứ một lượng bằng nhau. Tất cả được trộn trong mật chó. Đem treo trong phòng ba mươi ngày thì lấy xuống cà xát vô dương vật. Cách này có thể làm cho dài ra thêm một tấc (Tàu).

Sách “Lục nghiệm phương” có chỉ cách làm cho âm đạo nhỏ lại và nóng như sau: Dùng thanh mộc hương hai phân, hợp với sơn châu bốn phân. Ngiền cả hai thành bột, dùng nước miếng của mình vê thành những viên nhỏ bằng hạt đậu, sau đó dùng những viên này xát bên ngoài âm hộ thì rất có hiệu quả.

12. Các thứ thuốc và phương pháp áp dụng có hiệu quả chắc chắn có bạn sẽ tự hỏi: Người viết sách này tin rằng ngắn có thể biến thành dài. Nhỏ có thể làm cho lớn. Lớn có thể làm cho nhỏ. Tin là một yếu tố tâm lý cần thiết để thực hiện có hiệu quả. Việc cọ xát, thoa bóp chính nó đã làm cho máu huyết cho đó lưu thông thêm, kích thích thêm cơ năng tình dục nên ít ra cũng có hiệu quả phần nào. Thuốc chỉ là một phần, tin là chuyện sẽ thành mới là phần quan yếu trong việc cường tráng và cường tinh.

Tố Nữ Kinh

 

Đây là bài nói về điều hòa tinh khí, tiết khí mà vẫn có giao hợp. Con người vẫn là bị ám ảnh bằng cái sợ quan trọng là bị hao phí tinh dịch. Vì vậy nên phải bão tồn nó và hấp thụ thêm phần bổ dưỡng của đối phương. Nhờ hai cách thế này, con người tránh được tuổi già.

Sách “Bí quyết ngọc phòng “ có nghi:

Tuổi 20 có thể giao hợp và xuất tinh hai ngày một lần

Tuổi 30 có thể giao hợp và xuất tinh 3 ngày một lần

Tuổi 40 có thể giao hợp và xuất tinh 4 ngày một lần

Tuổi 50 có thể giao hợp và tinh 5 ngày một lần

Đã đến khi tuổi 60 dù có giao hợp cũng không nên xuất tinh nữa.

Khi Hoàng Đế hỏi về số lần xuất tinh của một đời người thì Tố Nữ trả lời là “số lần căn cứ trên:

- sức khoẻ

- tuổi tác

- khí lực của người đó

Cho nên không thể có sẵn một con số nhất định được.”

Ghi chú:

1.     Hoàng Đế trong cung có một ngàn hai trăm cung nữ, nên thuật phòng trung vô cùng thông thạo. Trong các yếu tố nói trên yếu tố tuổi tác là quan trọng nhất vì tuổi tác kéo theo kết quả cùng khí lực. Đàn ông tới khi 60 tuổi thì tinh ít dần cho đến khi 70 tuổi thì chỉ còn một phần ba so với khi mình vào lúc 30 tuổi. Vì vậy kiên cữ xuất tinh lúc 60 tuổi là điều vô cùng hợp lý.

2.     Bác sĩ Kim Soai cho rằng đàn ông 75 tuổi ba tuần mới giao hợp một lần. Khi đến 80 tuổi thì hai tháng mới nên lâm trận. So sánh với kinh Tố Nữ thì có sự khác biệt. Điều này dễ hiểu vì có sự biến chuyển của đời sống con người qua thời gian. Con người từ lúc kinh Tố Nữ xuất hiện đến nay đã mạnh hơn về nhiều phương diện, nhất là phương diện sức khoẻ.

3.     Sách vở có ghi triết gia Hy Lạp Socrate giao hợp cách mười ngày một lần. Trong khi đó đạo cơ Đốc ghi là nên mỗi tuần một lần thôi. Hai con số này khác nhau và lời khuyên lại không căn cứ trên tuổi tác của con người, một vấn đề quan trọng mà kinh Tố Nữ có nói.

4.     Sách “Dưỡng Sinh Yếu Luận“, một quyển sách của đạo gia có ghi chuyện đạo sĩ Lưu Kinh.

  • Mùa xuân 3 ngày giao hợp có xuất tinh một lần.
  • Mùa hạ, mùa thu thì một tháng hai lần
  • Mùa đông không nên xuất tinh.

Lưu Kinh cho rằng sinh hoạt phòng trung tuỳ theo mùa mà phù hợp với sinh hoạt của thiên nhiên. Nguyên tắc của thiên nhiên là “Xuân xanh Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàn”. Mùa Đông thì thu về, tàng trữ, không cho ra vì không thể sinh sôi nẩy nở được. Quan niệm giao hợp liên hệ với mùa trong năm chỉ thấy ở đạo gia mà thôi.

Sách “Dưỡng Sinh Tập”cũng có ghi tương tự như sách “Dương sinh yếu luận”chỉ thêm một điều là:”Mùa Đông xuất tinh một lần bằng mùa Xuân xuất tinh một trăm lần”vì mùa Xuân dương khí hạnh mậu, sung mãn, trong khi đó mùa đông là mùa của âm khí. Đáng lẽ mùa này nên tránh giao hợp để phù hợp với thiên nhiên.

5.     Sách “Động Huyền Tử”nói rằng phải bão tín và bão tinh nên trong khi giao hợp thì phải quan sát nữ nhân một cách cẩn thận. Đừng quá chú trọng đến tiết giảm xuất tinh mà quên đi sự hoan lạc của phái nữ. Cần phải cho hai bên cùng đạt đến cực đĩnh mà vẫn tiết tinh thì mới tốt.

Nhưng làm thế nào để đạt tiêu chuẩn đó? Sách đưa ra phương pháp như sau:

  • Dương vật đâm nhè nhẹ, không xốc nỗi, không hùn hụt.
  • Chỉ đâm cạn vùng âm hạch và thành âm đạo không cần lút cán tới đầu tử cung.
  • Nhắm mắt dưỡng thần trong khi đâm rút
  • Cong lưng, cúi đầu.
  • Nở rộng lổ mũi.
  • Mở rộng hai vai ra
  • Ngậm miệng hít hơi vào buồng phổi, càng hít vào nhiều càng tốt.

Nếu áp dụng phương pháp này mà vẫn xuất tinh thì chỉ xuất tinh ba phần mười tinh dịch mà thôi. Như vậy cũng đạt được khoái lạc đồng thời vẫn đạt được nguyên tắc tiết giãm tinh khí (tiết tinh).

6.     Ta thấy đây chỉ là phương pháp hô hấp. Thực hành phương pháp hô hấp thì thần kinh điều khiển sự xuất tinh không còn hoạt động hữu hiệu nữa, ngày nay người ta dùng nhiều phương pháp này.Nhưng điều quan trọng nằm ở chỗ vừa luyện tập vừa tự tin. Luyện tập thuần thục vì đây là tập hợp của nhiều động tác chống lại một phút tràn trề của cơ thể. Có ý chí để tin rằng mình thắng cơ thể mình, mình làm được chuyện đó.

Tố Nữ  Kinh

Hoàng Đế nói với Tố Nữ rằng: “Ta cảm thấy mình khí suy nhược, khi giao hợp thì không đồng nhịp với người nữ. Bình thường thì lòng chẳng cảm thấy vui, lại luôn luôn lo sợ hồi hộp như sắp có chuyện gì nguy hiểm xảy ra cho mình. Tại sao vậy?”

Tố Nữ đáp: “Tất cả hiện tượng nói trên đều do âm dương không điều hoà mà sinh ra.Âm dương không điều hoà vì sinh hoạt phòng sự không đúng cách. Nếu tinh lực của nữ nhân cường thắng hơn nam nhân thì chẳng khác nào như nước tạt vào ngọn đuốc, đuốc sẽ tắt; nam nhân không kham nỗi nên không còn hứng thú.

Nói cách dễ hiểu, sinh hoạt phòng sự  như  nấu nương thức ăn phải phối hợp diều hòa giữa lửa và nước mới có món ăn ngon. Nếu thấu triệt nguyên tắc trên và thực hiện được thì sẽ hưởng thụ sự lạc thú của nhân gian, bằng không thì thân thể trở nên suy nhược có thể đến tán mạng nữa. Lúc đó đâu còn gì vui thú nữa.

Bởi vậy nhân gian phải thận trọng trong việc phòng the, tránh đi ra ngoài nguyên tắc không đồng điệu nói trên.”

GHI CHÚ:

1.     Hoàng Đế là một trong ba vị vua thời thái cổ: Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Tương truyền Phục Hy phát minh ra bát quái, nghiên cứu về âm dương ngũ hành. Âm dương là những thể đối nghịch nhau của sự vật như trời-đất, mặt trời-mặt trăng, nam-nữ, trắng-đen, ngày-đêm…

Phục Hy cũng là vị vua chỉ dạy cho nhân dân sự kết hôn. Trong việc phòng sự nam nữ, Phục Hy bàn rằng: “Trời (dương) chuyển từ phải sang trái, đất (âm) chuyển từ trái sang phải. Nam nhân trong lúc giao hợp, theo thuộc tính dương đó, chuyển động (sàng) sang trái trong khi nữ nhân chuyển động (sàng) sang bên phải. Nam nhân như trời ở trên trùm phủ xuống dưới. Nữ nhân như đất ở dưới nghinh tiếp lên trên. Vị thế cơ bản của phòng the giao hợp là vậy, hai bên sàng ngược chiều nhau và trên thúc xuống, dưới hẩy lên”.

2.     Hoàng Đế vốn người thuộc lưu vực sông Hoàng Hà, là người lãnh đạo của mấy bộ lạc lớn tại đây. Theo sử, ông sanh sống vào khoảng 2.550 trước Công-nguyên, thông tuệ, đã phát kiến ra kim chỉ nam, đã quan sát được sự vận hành của Thái dương hệ. Trên mặt đất thì ông quan sát về những dấu vết để lại do cầm thú chim muông từ đó xác định phái đực cái của từng con. Về nhân văn, ông thiết lập ra hệ thống chữ viết của người Trung Quốc thời đó. Nhờ sự phát minh này, người Trung Hoa mới bắt đầu ghi lại các chuyện xảy ra chung quanh mình lưu truyền lại cho đời sau.

3.     Về Y khoa, Hoàng Đế và sáu vị y sĩ trong nhóm Chi-Bách hoàn thành một bộ Bách Khoa Y-Học có tên là “Y học trọng điển” mà “Hoàng Đế nội kinh” là một quyển ở trong bộ đó. Chi-Bách và những vị danh sư lúc bấy giờ là những người cố vấn của Hoàng Đế về những vấn đề y dược và là y sĩ của Hoàng Đế.

 

oOo

 

Hoàng Đế có nhiều cung nữ nhưng giao hợp không đúng phương pháp cho nên khi niên tuế vào độ ngũ tuần thì thần sắc suy nhược không còn tráng kiện nữa. Ông mới đi hỏi Chi-Bách và Tố Nữ về cách thế giao hợp dúng cách để khỏi suy nhược thân thể. Trong sách Hoàng Đế nội kinh, thiên “Thượng cổ thiên chân luận” có ghi sự vấn kế nầy như sau:

“Trẫm thường nghe người thời xưa sống hàng trăm năm mà động tác (tình dục) không suy yếu. Người thời nay tuổi mới vừa khoảng năm mươi mà động tác (tình dục) đã suy nhược…”.

Chi-Bách đáp rằng: “Người xưa sở dĩ được trường thọ vì họ hiểu thấu đáo đạo âm dương, từ đó chuyện gối chăn được thực hành hợp lý. Lão tử nói: “Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa”. Bốn mùa, trời đất, âm dương, con người phải “thuận theo” đó là nguyên tắc cơ bản của sống còn, nếu nghịch lại hay vi phạm nguyên tắc tự nhiên này thì sẽ sinh ra rất nhiều tai hại. Ví dụ như nguyên tắc xuân sanh, hạ trưởng, thu liễm, đông tàng (muà xuân gieo mạ trồng lúa, mùa hạ lúa lớn, mùa thu gặt lúa, mùa đông gặt lúa cất vào kho). Nếu bây giờ không thuận theo mà mà mùa thu hay đông lại gieo mạ trồng lúa thì lúa sẽ khô chết, không lớn lên được.

Tố Nữ trả lời như sau: “Vấn đề Hoàng thượng đưa ra đó, giải đáp trả lời có thể căn cứ theo thuyết âm dương ngũ hành. Như tính nước cực mạnh sẽ tiêu diệt được tính lửa, đó là nguyên tắc gây ra thể lực suy yếu ở người nam. Trong trời đất có năm yếu tố chánh (ngũ hành) là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Chúng tương khắc nhau là mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc, mộc khắc thổ… cứ như vậy mà tuần hoàn mãi mãi.

Vậy thì nếu thuỷ tính (nữ nhân) quá mạnh thì dễ hại tới hỏa tính (đàn ông). Mặt khác trong lúc giao hoan cao trào tuyệt hứng của đôi bên so le thì cũng gây nên hậu quả không tốt.

Một điều nữa là nam nhân sau khi xuất tinh xong quá mệt lăn ra ngủ, trong khi đó nếu nữ nhân chưa hoàn thành cao trào, còn đầy cảm hứng thì hậu quả sự bất hòa hợp nầy là một bệnh trạng cần phải sửa đổi hay chữa trị.

Nay Hoàng Đế sớm xuất tinh, suy nhược động tác (tình dục) là vì không hiểu biết sinh hoạt phòng sự một cách bình thường. Hậu quả là không cảm thấy thống khoái mà là một trạng thái mệt mỏi. Tất cả vì Hoàng Đế không thông hiểu thuỷ tính và hỏa tính, không thông hiểu tệ quả của bất điều hòa âm dương.”

 

oOo

GHI CHÚ:

1.     Bác sĩ Kim Soai cho rằng sau khi bắn tinh xong, nam nhân từ trạng thái sung sướng cực độ trở về trạng thái không còn cảm giác và rất buồn ngủ. Bởi vậy mới có nhiều trường hợp bẽ bàng trong đêm tân hôn. Trước đó thì nữ nhân e dè, sợ sệt, nam nhân “hoa ngôn xảo ngữ” để được tiến hành, nhưng khi xong phần mình liền lăn ra ngủ đuốc hoa bỏ đó mặc nàng nằm trơ khiến cho cô dâu từ đó có một tâm trạng chán sợ chuyện chăn gối ái ân, có thể thành bệnh lãnh cảm sau nầy.

2.     Bác sĩ Kim Soai cũng cho biết là âm đạo càng được dương vật cọ xát, người đàn bà càng cảm thấy sướng thú hứng tình đến nỗi muốn từ chối ái ân vì một lý do nào đó cũng không thể nào từ chối được. Điều xác định nầy phù hợp với lời của Tố Nữ nam nhân hỏa tính, nữ nhân thủy tính. Khi nước dâng lên cao (nước nôi tràn đầy đầm đìa) lửa bị tắt (bắn khí, xìu, mệt). Khi nước bị lửa đun sôi (cọ xát, chọc, đâm) thì nước sôi ào ạt, phùn phụt…

Tố Nữ Kinh

Hoàng Đế hỏi Tố Nữ: Tinh lực của nam nhân biến đổi bất thường, có khi yếu khiến dương vật không dương lên, có khi tinh dịch yếu đến không xuất ra. Nàng có biết phép trị liệu nào không?

Tố Nữ đáp: ”Sự kiện này cũng thường thôi, biết bao nhiêu nam nhân đắm say tửu sắc đến sanh tật bệnh. Muốn trẻ mãi không già không gì bằng đừng mê gái dẹp. Đây là một điều rất quan trọng mà nhân sinh mắc phải vẫn không chừa. Nếu vì sắc mà trị bệnh thì phải dùng dược liệu trị ngay. Tuy nhiên trước khi bắt đầu giao hợp phải tránh những cấm kỵ, vi phạm những cấm ky thì dùng dược kiệu cũng vô ích mà thôi.”

GHI CHÚ:

1.     Những cấm kỵ đó là gì?

Sách Tố Nữ  có ghi lại sáu điều cấm kỵ như sau:

  • Kỵ thứ nhất

Không được giao hợp vào ngày đầu tháng âm lịch (thượng ngươn) giữa tháng (lúc trăng tròn) và cuối tháng. Phạm vào cấm kỵ này con cái sinh ra sẽ bị thương tổn, còn mình thì “không còn giương lên được”. Trong mình lúc đó bị “dục hỏa thiêu trung”, nghĩa là hỏa thị dục thiêu đốt tâm can của mình nên nước tiểu phát ra có màu đỏ hay vàng lườm. Nhiều khi mang thêm bệnh di tinh. Tuổi thọ bị giảm.

  • Kỵ thứ hai

Khi có sấm sét, mưa gió, đất thảm trời sầu, động đất, tránh không được giao hợp. Giao hợp thì con cái sinh ra sẽ bị câm điếc, mù loà hay tinh thần suy nhược. Về phương diện tâm lý thì đứa nhỏ sẽ có một tinh thần suy nhược, đa sầu, đa cảm, luôn luôn ủ dột.

  • Kỵ thứ ba

Không nên giao hợp khi đã ăn quá no hay khi đương cơn say. Phạm cấm kỵ này nội tạng bị tổn thương, nước tiểu màu đỏ, mặt tái xanh, lưng đau mỏi, mình mẩy phù thủng, tuổi thọ bị rút xuống rất nhanh.

  • Kỵ thứ tư

Không nên giao hợp khi vừa mới đi tiểu xong. Lúc này cơ thể chưa trở về trạng thái bình thường, chưa sẵn sàng để mở ra hoạt động rất phức tạp là giao hoan. Phạm điều cấm kỵ này thì về sau ăn uống sẽ mất ngon, bụng phình to, tâm thần luôn luôn phiền muộn, nhiều khi lơ đãng như người mất trí.

  • Kỵ thứ năm

Tránh giao hợp khi người đã mất sức vì mệt nhọc như đi bộ, lao động nặng, mệt mỏi chưa phục hồi, trong minh bãi hoải. Phạm cấm kỵ này thì sẽ bị mắc bệnh suyễn, miệng khô, đường tiêu hoá bị trở ngại, các cơ quan bài tiết gặp những giao động.

  • Kỵ thứ sáu

Không nên giao hợp liền khi đương nói chuyện với nữ nhân mà dương cụ nổi lên. Vi phạm điều này thì dương cụ bị thương tổn, nội trạng bị suy, lổ tai không còn thính, tinh thần bất an, ho suyễn. Nhắc lại, sáu điều cấm kỵ này quan trọng đến nổi nếu phạm phải thì sinh bệnh, chỉ có thần dược mới chửa khỏi mà thôi.

2.     Sách Tố Nữ ghi lại cuộc đối thoại sau đây:

Hoàng Đế hỏi Cao Dương Phụ: “Ta nghe Tố Nữ nói nam nhân hay bị cửu lao và thất thương, nữ nhân hay bị hồng, bạch đái và tuyệt sinh (không thể sinh con). Thử hỏi vì sao mà sinh ra những chứng bệnh này?”

Cao Dương Phụ nói: “Nam nhân thường bị các tệ nạn ngủ lao, luc cực và thất thương. Các bệnh này sinh ra điều có nguyên nhân.”

Hoàng Đế nói: “Ta muốn nghe nói về thất thương, xin nàng trình bày cho rỏ.”

Cao Dương Phụ nói:

Thất thương là:

- Âm hản (mồ hôi trộm)

- Âm suy (yếu sinh lý)

- Tâm thanh (tinh dịch đổi màu không trắng)

- Tinh thiểu (tinh dịch ít và lỏng bỏng)

- Âm hạ ướt

- Tiểu ít

- Không cương cứng

Làm sao trị những chứng bệnh trên?

Chỉ có cách dùng phục linh. Phục linh là thần dược có thể dùng quanh năm. Các dược liệu khác dùng chung và các điều chế như sau:

- Phục linh               4 phân

- Sương bồ              4 phân

- Sơn cu di               4 phân

- Quát tử cân           4 phân

- Thố hệ tử              4 phân

- Ngưu thằng           4 phân

- Thức thạch chi       4 phân

- Can địa hoàng        7 phân

- Tế tân                   4 phân

- Phòng phong         4 phân

- Xu dự                    4 phân

- Thục đoạn             4 phân

- Sà sàng tử             4 phân

- Bát thực                4 phân

- Tam thiên kỵ         4 phân

- Thiên hùng            4 phân

- Thạch đẩu             4 phân

- Đổ trọng               4 phân

- Tùng dung            4 phân

Các dược liệu nói trên đem tán chung thành bột, thêm vào mật ong, trộn đều, vo lại thành viên bằng ngón tay, dùng ngày ba lần, mỗi lần 3 viên.

Có thể không cần trộn với mật ong, để bột như vậy dùng như thuốc tán, mỗi lần dùng một muổng canh, dùng liên tiếp 7 ngày thì sẽ có hiệu quả, 10 ngày thì sẽ hết bệnh, 39 ngày thì sẽ trở lại bình thường. Nếu dùng thường trực thì sẽ được cải lão hoàn đồng, thân thể khoẻ mạnh. Trong thời gian dùng thuốc này, cử thịt heo, thịt dê, cử không được uống nước lạnh (uống trà nóng thì tốt).

3.     Kinh Dịch có nói: “Các hiện tượng của trời đất là điềm triệu của cát hung, tốt xấu, bởi vậy người đời căn cứ trên thiên nhiên mà đoán được chuyện sắp xẩy ra. Những điều cấm kỵ nói trên điều căn cứ trên triết lý lấy thiên địa nhân làm gốc.”

-   Điều cấm một là vì các ngày tháng này tương ngày âm thần.

-   Điều cấm hai là vì các ngày giờ này là tương đương thiên kỵ. Điều cấm này cũng hấy nhắc đến trong sách Lễ Ký. Sách Lễ Ký chép rằng khi trời nổi cơn mưa gió sấm xét thì không nên thụ thai vì đó là lúc thiên nhiên đang cường nộ, người giao hợp dễ bị phong đơn. Lấy cái nhìn tân tiến mà xét, thì có sấm xét thì trong lòng ta không yên, việc phòng sự không còn hứng thú nữa.

-   Điều cấm thứ ba thuộc về nhân kỵ: Ăn no sẽ ảnh hưởng đến tì (bao tử), hỉ nộ, bi, thương sẽ bị ảnh hưởng đến nội trạng. Y học ngày nay cũng có bàn luận xa gần đến vấn đề này khi khảo về sự tương quan giữa âm và thân (thân tâm y học).

Ngoài ra còn có địa kỵ mà người dân tương truyền cùng nhau là cơ bản văn hoá Á Đông, đó là không được giao hợp trong đền chùa, thần mếu, phật pháp, đáy giếng chỗ nhà bếp, nơi cầu, chổ mồ mà, cạnh quan tài. Các điều cấm kỵ này đưa ra là để ta an tâm rằng, mình không có làm gì bậy thì như cuộc vui mới đạt được tuyệt đỉnh của nó.

-   Điều cấm kỵ thứ tư là không được giao hợp khi mới tiểu xong mới nghe qua thì có vẻ vô lý nhưng người Trung Hoa ngày xưa đã có căn cứ tin tưởng điều này. Sách “Ngọc phòng bí quyết” có đoạn nói rằng sau khi tiểu xong thì tinh khí hao hụt, các mạch đạo không thông, trong tình trạng như vậy mà giao hợp thì đương nhiên bị tổn thương nội trạng. Nếu giao hợp thụ thai được người mẹ sẽ bị tổn thọ.

Tất cả 7 điều cấm kỵ trên thì người xưa đều có lý do của họ, ta thấy rằng không hữu lý vì ta nhìn dưới cặp mắt của người tân thời, không để ý trên khía cạnh âm dương, mạch… của y lý xưa. Nhưng không phải vì vậy mà ta khinh thường rồi cứ ngang nhiên bước vào những điều cấm kỵ.

4.     Xét cuộc nói chuyện trên của Hoàng Đế và Cao Dương Phụ ta nghe nhắc đến ngủ lao, lục cực và thất thương, nhưng phần trên chỉ mơí nói đến thất thương mà thôi, các thứ khác không thấy nhắc đến. Độc rải rác đó đây thì thấy Tố Nữ kinh có nhắc đến các bệnh về bộ máy sinh dục khiến ta có nghĩ rằng ngủ lao, lục cực là nói về bệnh sinh lý. Chẳng hạn như bệnh niếu đạo viêm (sưng đường tiểu). Về bệnh này Đông y có đưa ra phép chửa như sau:

- Uống thật nhiều nước

- Cử ăn các loại sinh vật

Cách này xét ra đã có kết quả.

5.     Tây y nghiên cứu nơi tật bệnh mà cho toa, ít chú trọng đến nguyên nhân xa cho nên lắm khi bệnh hết mà hại các cơ quan khác, tiếng y khoa gọi là phản ứng phụ. Đông y trái lại tuỳ theo tính chất của bệnh và sự quân bình mạch, nhiệt của bệnh nhân mà gia giảm thuốc cho nên tuỳ người mà có thang thuốc riêng, bởi vậy dùng đông y nên cẩn thận, không nên thấy người nọ người kia uống thang thuốc này thang thuốc nọ hết bệnh mà cứ lấy toa mà cứ lấy thang thuốc riêng của họ bổ cho mình.

6.     Thời tiết trong năm đối vơí Đông y cũng quan trọng. Sách còn nghi lại câu chuyện của Cao Dương Trụ đáp Hoàng Đế trong đó nàng nói mỗi mùa thì dùng những thứ thuốc khác nhau, thuốc mùa thu khác với với thuốc mùa hạ, thuốc mùa hạ khác với thuốc mùa Đông…

Tố Nữ Kinh

 

Nhiếp bổ và cường tinh

(Bổ thận và cường dương)

Tố Nữ nói: “Có một người con gái tên Thái Nữ rất thâm hiểu đạo âm dương”, Hoàng Đế sai Thái Nữ đi mời Bành Tổ cho mình thỉnh giáo về phương pháp diên niên ích thọ (sống lâu).

Bành Tổ trả lời: “Giữ tinh khí, thu dưỡng tinh thần. uống các thứ thuốc bổ dưỡng thì có thể trẻ mãi không già. Tuy nhiên nếu đã có ba thứ trên mà không biết cách giao hợp cho phải phép thì cũng vô ích thôi.

Đạo giao hợp là hợp thành nhất thể với người giao hợp. Xem kìa trời đất liền nhau thành nhất thể nên mãi mãi trường tồn. Con người cũng vậy, không khác gì. Nếu không biết nguyên tắc đó thì bị thương thân bại thể có khi còn táng mạng nữa”

GHI CHÚ:

1.     Hoàng đế vì trăm công ngàn việc nên người đã mệt mỏi. Thêm chuyện tửu sắc nên thần kinh không nhiều thì ít bị suy hoại, luôn luôn cảm thấy như mình đang mang bệnh. Để cho Hoàng Đế tin tưởng thuốc thang công dụng, các y sư trong triều mới bàn nhau đi mời Bành Tổ tiên sinh là một vị triết nhân thông hiểu thuật dưỡng sinh. Tương truyền Bành Tổ tiên sinh rất thọ và dùng phương pháp nhiếp bổ (dùng thuốc bổ) và cường tinh (làm cho tinh khí mạnh hơn, cường dương) nên khi đã già mà vẫn thấy như thanh xuân và khí thế giao hợp vẫn không giảm.

2.     Thái Nữ, như Tố Nữ, là người con gái thật đẹp lại thấu hiểu các phương cách phòng sự. Những điều chỉ dạy của bà ta rất ích lợi cho cuộc dưỡng sinh và đời sống chăn gối.

3.     Sách “Liệt tiên toàn truyện” có ghi lại truyện Thái Nữ vâng lệnh của vua Chân Mục Vương (976 tr. Công nguyên) đi hỏi Bành Tổ tiên sinh về bí thuật phòng trung để về truyền lại cho vua. Từ đó về sau mục Vương là người hưởng được kết quả diệu kỳ của hành sự giao hoan theo đúng phương pháp.

4.     Sách “Thập di ký” có ghi chuyện Vương mẫu xuống trần ăn ở cùng với Mục Vương của vùng Vị Châu thời Đông Tấn. Lúc nầy Mục Vương đã hơn 50 tuổi. Vương mẫu chỉ dẫn Mục Vương cách giao hoan và hai người đã hưởng một đêm sung sướng tuyệt trần.

Sách có nói thêm là trong đêm dó Vương mẫu lấy ra trong âm đạo một “hạch tổ” bảo vương nuốt đi vì rất bổ cho việc dưỡng sinh và cường tinh. Sách y học Trung quốc có ghi là hạch nầy dùng chữa bệnh tạng suy, cải lão. Hạch còn trị được bệnh tinh thần không an định, giúp cho người bệnh cảm thấy an định thơ thới tâm hồn.

5.     Từ thời Hán y giới Trung Hoa đã có “Cam mạch đại tổ thang” là thang thuốc an thần trị bệnh cho phụ nữ mà chất chính vẫn là hạch tổ lấy từ trong âm đạo.

6.     Trung quốc vốn nổi tiếng về các thang thuốc cường tinh tráng thể. Các thứ nầy vốn khác xa với các thứ thuốc kích dâm ngày nay. Thuốc kích dâm kích động thần kinh cho hứng tình gợi dục mà không giúp thân thể bổ dưỡng, không giúp cho nam nhân tiết khí (tiết giảm xuất tinh). Thuốc cương tinh tráng thể của trung quốc trái lại là thứ giúp thân thể chống lại bệnh suy nhược do các cách giao hợp không đúng phương pháp sanh ra mà vẫn giúp được người dùng cảm thấy thích thú trong khi giao hoan.

Tố Nữ Kinh

Chơi nhiều, ít mệt

(Đa ngự, tiểu tiết)

Thái Nữ nói: “Xin Bành Tổ tiên sinh chỉ dẫn thêm về đạo giao hợp để giữ được thân thể tinh tráng.”

Bành Tổ nói: “Đạo lý nầy nói ra thì rất dễ hiểu thôi, chỉ hiềm loài người không theo hoặc theo mà không tin thôi. Hoàng đế hiện tại trăm công ngàn sự, tâm thần mỏi mệt không thể nào thấu đáo các lời giải thích về phép dưỡng sinh. Ta chỉ xin nói về trường hợp Hoàng Đế có thể làm được mà thôi.

Hiện trong cung có nhiều phi thiếp, chỉ cần thâm hiểu cái đạo lý giao hợp thì cũng đã nắm được phương pháp nhiếp dưỡng rồi. Nguyên tắc là “đa dữ niên thanh nữ giao hợp, tịnh thả lũ giao bất tiết” nghĩa là giao hợp cùng thật nhiều cô gái trẻ trung nhưng tiết giảm sự̣ bắn khí xuất tinh. Tiết giảm được bắn khí thì thân thể sẽ được nhẹ nhàng dễ chịu, không bệnh tật nào có thể sanh ra dược.”

GHI CHÚ:

1.     Bành Tổ chú trọng tâm lý trị liệu. Vua nhiều việc nên mệt mỏi, ông khuyên vua nên về hậu cung vui cùng cung nữ quên bớt những chuyện lo âu về quốc sự vốn làm cho con người dễ sút giảm sinh lực.

2.     Nhưng vui chơi nhiều (đa ngự) mà không được mất sức, càng ít xuất tinh (tiểu tiết, tiết: rỉ ra, lộ ra, chảy ra) càng tốt.

3.     Lựa gái thanh xuân trẻ đẹp để giao hợp đó là nguyên tắc tâm lý người đàn ông thấy mình hưởng nhiều, mình hơn người, may mắn hưởng được của quý là sự thanh xuân của người con gái.

4.     Gần đây áp dụng nguyên tắc nầy, bác sĩ Havelock Ellis khuyên các cặp vợ chồng nên tạo thanh xuân cho nhau trong việc chăn gối. Hai bên nên vui vẻ giao tình để cùng nhau thấy như mới như trẻ. Người chồng vui vẻ trong sự gợi xúc cảm, người vợ chải chuốt trang điểm, tạo thêm vẻ thanh xuân cho chính mình và cho sự giao hợp.

5.     Thống kê cho thấy có nhiều cặp vợ chồng lâm vào tình trạng càng lâu xa đêm tân hôn hào hứng thì càng có sút giảm trong niềm thích thú gối chăn. sự quen nhàm là một yếu tố, khiến tạo nên tình trạng miễn cưỡng. Ta tránh tệ hại nầy bằng cách hợp tác với nhau, làm như mới, đối với nhau như mới gặp lần đầu thì sự khoái sướng mới lâu dài trong cuộc sống vợ chồng được.

6.     Nhìn lại câu nói của Bành Tổ bằng con mắt của người hiện đại ta thấy ông khuyên nếu muốn hưởng hạnh phúc đời thì phải tạo cho có được một tinh thần vui vẻ (bớt lo lắng), một thân thể khỏe khoắn (ít bắn khí, hưởng tuổi xuân và sự vui vẻ của người bạn tình). Đời nay con người phải sống trong một xã hội bận rộn, tâm lý dễ bị xáo trộn phiền muộn bất an từ đó dễ sinh ra bệnh hoạn. Kinh Tố Nữ chương nầy lời của Bành Tổ tiên sinh là một lời khuyên tốt cho chúng ta, nếu chúng ta biết cách sống.

Tố Nữ Kinh

 

Chứng liệt dương, vô sinh ở đàn ông thật là phức tạp vì có nhiều nguyên nhân sinh  bệnh. Thực tế cho thấy người mắc chứng bệnh liệt dương vô sinh là những người thường dương hư bất túc, có biểu hiện như thiếu máu, suy nhược thần kinh, ù tai, chóng mặt, tinh thần mệt mỏi, sợ lạnh, chân tay lạnh, mỏi gối, chùn chân, liệt dương, di tinh… nên đã làm suy giảm chức năng sinh lý. Để có thể phục hồi chức năng sinh lý, những phương rượu thuốc dưới đây có tác dụng bồi bổ nguyên khí, làm bổ thận tráng dương, chữa liệt dương vô sinh có hiệu quả. Mọi người tham khảo và có thể áp dụng khi cần.

Rượu nhung hươu: Nhung hươu 6g, sơn dược 10g, dùng vải sạch bọc lại, rượu trắng 500g. Cho nhung hươu và sơn dược vào rượu ngâm 1 tuần sau là có thể uống được. Mỗi lần uống 20ml, mỗi ngày 2 lần trước bữa ăn, hoặc dùng khai vị nếu không uống được rượu.

Rượu lộc tiên: Lộc tiên (tức cơ quan sinh dục ngoài của con hươu đực) 1 cái, rửa sạch bằng nước ấm ngâm. Sau bóc vỏ màng trong, thái lát mỏng, cho vào 1.000ml rượu trắng loại ngon ngâm, để 1 tháng sau đem ra uống. Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20ml.

Rượu hải mã: Hải mã (cá ngựa) tán thành bột cất dùng dần. Ngày lấy 5-10g bột này ngâm với rượu uống hằng ngày.

Rượu hải cẩu thận: Hải cẩu thận (tức cơ quan sinh dục ngoài của hải cẩu đực) 1 cái, dùng rượu ngâm rồi thái lát. Nhân sâm 15g, sơn dược 50g, tất cả cho vào ngâm cùng 1.000ml rượu gạo, để khoảng 1 tháng sau là uống được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml.

Rượu tiên mao: Tiên mao khô 100g, rửa sạch thái lát mỏng, cho vào 500ml rượu ngon để ngâm, trong 15 ngày có thể uống. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml trước bữa ăn.

Rượu tiên linh tỳ: Tiên linh tỳ 60g, rửa sạch tiên linh tỳ để ráo nước, cho vào trong túi vải, buộc miệng rồi cho vào bình rượu đổ 500ml, đậy kín nắp, để 7 ngày là dùng được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml vào trước bữa ăn.

Chú ý: Tuy là rượu bổ nhưng các loại rượu thuốc này không thể dùng đại trà mà có một số trường hợp không được sử dụng như: Trong thời gian đang uống rượu thuốc tuyệt đối không uống kèm các loại thuốc tân dược là atarax, wintermin, perphenazine… hay thuốc Đông y là cát hoa (bột sắn dây)… Nếu cần uống thì phải cách xa 24 tiếng để tránh các tác dụng phụ xảy ra.

Một số bệnh không nên dùng rượu thuốc (vì để có hiệu quả, cần sử dụng dài ngày) như: viêm, xơ gan, loét dạ dày, suy tim, viêm thận mạn, viêm ruột kết mạn, lao phổi…

Thịt gia cầm nói chung rất giàu dinh dưỡng, đặc biệt lại bổ thận tráng dương nên có tác dụng làm tăng cường chức năng sinh lý cho con người. Đó chính là các thức ăn thực bổ thuộc loại bổ dương như hồ đào, thịt hươu, thịt dê, thịt cừu, tôm he, thịt chim sẻ… là những thức có tác dụng bồi bổ dương khí, do đó rất phù hợp sử dụng cho những người dương hư bất túc, biểu hiện như sợ lạnh, thích ấm, tiểu tiện lâu hoặc nhiều lần, lưng mỏi, liệt dương… Sau đây là những món ăn, tùy theo mà lựa chọn sử dụng sao cho thích hợp với người liệt dương vô sinh.
Thịt gà trống: Gà trống choai hoặc gà trống đen 1 con, làm thịt bỏ lông, ruột. Cho 50g nhục thung dung vào, đổ rượu nước vừa phải, hầm nhừ cho gia vị vào ăn. Nhờ các hormon androgen và tocopherin có nhiều trong gà trống mà đạt hiệu quả tăng cường được chức năng sinh dục.
Thịt vịt cạn: Đây là loại thức ăn có tác dụng ôn bổ cường tráng. Vịt cạn 250g, tôm nõn 15g, hành, gừng, xì dầu… hầm chín, ăn thịt uống nước canh.
Thịt chim cút: Chim cút 1 con (làm thịt bỏ lông và ruột), cho thỏ ty tử 15g, nhục thung dung 15g. Cho vào 2 lít rượu trắng ngon, ngâm trong 15 ngày sau là uống. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml.
Thịt chim sẻ: Chim sẻ 5 con (vặt lông, bỏ nội tạng, chặt miếng nhỏ), cho dầu vào chảo rán chín, chấm muối ăn. Trứng chim sẻ luộc chín, bóc vỏ, ăn ngày 2 lần, mỗi lần 1 quả. Cần ăn một thời gian mới hiệu quả.
Thịt chim bồ câu trống: Trong thịt chim bồ câu trống người ta thấy có chứa nhiều protein, chất béo, calcium, magne, hormon sinh dục nên là thức ăn cường thận làm tăng cường chức năng sinh dục. Cần 1 con bồ câu trống trắng, vặt lông, bỏ nội tạng, cho 50g câu kỷ tử, 50g nhục thung dung. Tất cả đem hấp chín ăn. Ăn nhiều lần mới có kết quả như ý.

Nguyên nhânThận khí hư nhược:

Do cơ thể hư yếu thận khí hư nhược, mệnh môn hoả suy, dương vật không cương được lâu, hoặc phòng dục vô độ làm cho thận tinh quá hao tổn, âm hư hoả vượng, tướng hoả vượt quá mức bình thường, nội nhiệt gây nên huyết táo mà dẫn tới không có con.

Khí huyết đều hư:

Do suy tư quá độ, đa sầu đa cảm, lao động mệt mỏi gây tổn thương đến tâm, tâm huyết hao suy, âm dương khí huyết hư. Hoặc bị bệnh lâu ngày cơ thể hư nhược, mệt mỏi quá thương tổn tỳ ảnh hưởng chức năng vận hoá của tỳ vị, nguồn sinh hoá hao tổn, khí huyết không sung túc, tinh và huyết cùng nguồn gốc, hậu thiên mất điều hoà, tinh chất của thức ăn không đủ để hoá sinh khí huyết, dẫn tới thận tinh không đầy đủ nên không thể có con.

Can uất khí trệ:

Do tinh thần không được thư thái, tức giận nhiều gây tổn thương tới can, can khí uất kết, khí huyết không lưu thông, gây khí trệ huyết ứ, thận không được nuôi dưỡng đầy đủ nên không có con.

Đờm thấp trở trệ

Do ăn qúa nhiều chất bổ béo mà sinh ra đàm thấp làm cho tinh khiếu bất lợi, không có khả năng phóng tinh, hoặc lượng tinh dịch loãng ít, hoặc do cảm phải ngoại tà làm cho thấp nhiệt hạ trú ở thận, thận khí bị tổn thương, dẫn tới liệt dương di tinh, ảnh hưởng tới sinh dục.

Tóm lại: chứng bệnh vô sinh nam giới, phần nhiều có liên quan với 4 tạng tâm, can, tỳ, thận. Trong đó có quan hệ chặt chẽ nhất với thận.

Những nguyên tắc ăn uống

Thực ra thận và tinh dịch có mối quan hệ rất mật thiết. Vì vậy vô sinh thường do tinh trùng ít, hoặc tinh hàn, tinh lạnh, tinh nhanh, đều là do thận hư mà nên. Vì thế người mắc chứng này nên ăn nhiều những thực phẩm có tác dụng bổ thận sinh tinh, ôn bổ thận dương, ôn noãn mệnh môn, kiêng kị ăn những thực phẩm sinh lạnh sinh hàn, những thực phẩm cay có tính kích thích.

Những thực phẩm thích hợp

Những người bị bệnh tinh dịch bất thường, hoặc do đó mà dẫn đến vô sinh ở nam giới thì nên ăn những thực phẩm sau:

Nước cơm: Là dịch đặc nổi lên trên mặt khi nấu cơm hay nấu cháo. Y học cổ truyền cho rằng, nước gạo có thể bổ âm trường lực, tốt cho ngũ tạng, nước gạo rất tốt cho cơ thể, người gầy yếu nên dùng thường xuyên, có tác dụng tư âm, mỗi ngày nên uống khoảng 1 bát.

Trứng chim tước: Rất thích hợp cho người bị chứng tinh dịch bất thường dẫn đến vô sinh, cổ nhân thường cho rằng nam giới ăn trứng chim tước sẽ nhiều tinh trùng để có con, có tác dụng bổ thận dương, ích tinh huyết, ăn trứng chim tước còn có thể tốt cho bệnh dương hư, có thể còn trị được cả bệnh máu khô ở nữ giới

Thịt chó: Ôn tính, vị mặn. Theo kinh nghiệm của các thầy thuốc thì thịt chó có tác dụng bổ trung ích khí, ôn thận trợ dương, bổ phế khí cố thận khí, điền tinh tuỷ, noãn tỳ, vị, ích khí lực, tốt cho lưng và đầu gối.

Nhau thai hươu: Ôn tính, vị mặn, ngọt, tác dụng ích thận tráng dương, bổ hư sinh tinh. Nhau thia hươu kiện tỳ sinh tinh hưng dương trợ hoả, bổ hạ nguyên, điều kinh trị huyếthe nhược, chân nguyên không đủ dẫn đến tinh dịch dị thường ót tinh trùng sống trong tinh dịch, tỉ lệ sống thấp, những người tinh trùng sống trong tinh dịch, tinh hàn đều rất thích hợp ăn món này.

Kỷ tử: Lành tính, vị ngọt, có tác đôngk niêm tinh ích tuỷ, bổ tinh tráng dương, ích thận giúp sáng mắt, kỷ tử có thể sinh ích khí, âm sinh mà tinh huyết tự mạnh, vì vậy mà kỉ tử thích hợp với người thận hư mắc các chứng tinh dịch bất thường.

Hải sâm: Tính ôn, vị mặn, có thể bổ thận ích tinh, rất thích hợp cho nam giới bị bệnh tinh trùng ít, tinh thanh. Hải sâm bổ thận óch tinh tráng dương, trị bẹnh dương suy, hải sâm thường dùng để chữa trị các bệnh ở nam giới như mông tinh, tiết tinh, dương suy…

Nhân sâm; Tính ôn, vị ngọt hơi đắng đông y cho rằng nhân sâm đại bổ nguyên khí, tăng khí lực, giúp thân thể cường tráng. Theo nghiên cứu dược lý học hiện đại, nhân sâm vừa có thể tăng cường chức năng của tuyến yên, vừa thúc đẩy hoạt tính giới. Vì thế người bị suy tuyến yên mà dẫn đến tinh dịch bất thường và vô sinh nên thường xuyên ăn nhân sâm.

Mỡ ếch: Dân gian có thói quen dùng mỡ ếch làm thực phẩm có tác dụng tầm bổ, bổ thận ích tinh, nhuân phế dưỡng âm. Mỡ ếch ích thận âm, hoá tinh niêm tuỷ nhuận tràng phế, là loại thuốc chữa bệnh tỳ vị bị hư do hàn, khí không hoá tinh. Nam giới bị bệnh thận hư thể chất hư nhược, tinh ít, tinh nhanh, không thụ tinh được, nên thường xuyên dùng mỡ ếch.

Rau cần: Còn gọi là dược cần. Tính lành, vị ngọt, đắng có hương thơm rất đặc biệ. Theo một báo cáo, một nữ y tá Thái lan trong quá trình nghiên cứu đã phát hiện ra rằng rau cần có tác dụng giảm bớt lượng tinh trùng trong tinh dịch. Vì vậy những nam giới bị chứng bệnh tinh dịch bất thường không thụ tinh được không nên ăn nhiều rau cần.

Ngoài ra, những nam giới mắc bệnh tinh dịch bất thường có thể dẫn đến vô sinh cũng nên kiêng uống các đồ lạnh không nên ăn quả thị, mã thầy, bí đao, đậu xanh, giá đỗ…

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.